gototop
Banner

home

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG HẦM Ủ BIOGAS Ở MỘT SỐ XÃ THUỘC TỈNH TIỀN GIANG

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  số 28 (2013): 80-85 Tác giả: Đào Mai Trúc Quỳnh, Nguyễn Võ...

Factors Influencing the Adoption of small-scale biogas digesters in developing countries - Empirical

The use of small-scale biogas digesters among farmers and households in rural areas of developing co...

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KHÍ SINH HỌC HDPE CẢI TIẾN VỚI NGUYÊN LIỆU NẠP RƠM VÀ LỤC BÌNH SẢN XUẤT BIOGAS

1. Giới thiệu mô hình khí sinh học loại HDPE cải tiến Việc ứng dụng mô hình khí sinh học trong xử l...

Publicaions in 2016 - 2017

STT Tên bài báo Abstract -E Abstract -VN 1 Ngo Thi Thanh Truc...

Biogas production from corn (Zea mays) stalks: effects of size

Study on size effects of corn stalks for biogas production was evaluated for three differe...

  • KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG HẦM Ủ BIOGAS Ở MỘT SỐ XÃ THUỘC TỈNH TIỀN GIANG

  • Factors Influencing the Adoption of small-scale biogas digesters in developing countries - Empirical

  • ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KHÍ SINH HỌC HDPE CẢI TIẾN VỚI NGUYÊN LIỆU NẠP RƠM VÀ LỤC BÌNH SẢN XUẤT BIOGAS

  • Publicaions in 2016 - 2017

  • Biogas production from corn (Zea mays) stalks: effects of size

Typical Image

 
1
9
Tong ket hoi thao
poster chi - eng
poster hong - eng

Publicaions in 2016 - 2017

STT

Tên bài báo

Abstract -E

Abstract -VN

1

Ngo Thi Thanh Truc, Tran Sy Nam, Nguyen Vo Chau Ngan, Jan Bentzen., 2017. Factors Influencing the Adoption of small-scale biogas digesters in developing countries – empirical evidence from Vietnam. International Business Research, Vol.10, No.2, 2017

The use of small-scale biogas digesters among farmers and households in rural areas of developing countries is a well-known technology. The potential for biogas in these areas is probably much larger than presently exploited and therefore more knowledge on factors that may further the use of biogas is needed. The present study draws on data from two extensive surveys in the Mekong Delta with questionnaires of one hundred and two hundred respondents, respectively, and data collected from personal interviews in all cases. The empirical evidence shows that the technology is well known and if the purpose is to expand the use of biogas, financial instruments (like subsidies) are the most important to rely on. High investment costs are important for the biogas investment
decision and subsequently information on the economic benefits of cheap biogas is an important topic to address.

Keywords: small-scale biogas, developing countries, Mekong Delta, barriers for biogas adoption, survey data, logit model

 

2

Nguyen Le Phuong, Thach Hai, Nguyen Văn Liem, Duong Ngoc Tram, Nguyen Thi Ngoc Trang, Kim Lavane, Nguyen Vo Chau Ngan, 2016. Study on co-fermentation of cow dung and giant dirt in semi-contunuous anaerobic digester. Journal of science and technology 54(2A) (2016) 287-292

Study on co-fermentation of cow dung (CD) and giant dirt (GD-Pistia stratiotes L.) in semi-continuous anaerobic digester aims to test biogas quantity and quality by time. There mixing rate counted based on ODM of each material were chosen: 100%CD, 50% CD + 50% GD and 100%GD. The experiments were set up in laboratory conditions with two types of digesters: one-stage digesters and two- stage digesters (triplicate for each treatment). After 80 days, the biogas produced from the one-stage digesters was not significantly different to the two-days, the biogas produced from the one-stage digesters was not significantly different to the two-stage digesters with similar input material. The highest production of biogas came from digesters of 100%GD-235.8l for the one-stage and 240.3 L for the two-stages. The medium production came from digesters of 50% CD+50%GD – 127.8 L for the one-stage and 118.4 L for the two-stage. After one month, the percentage of CH4 was high enough for burning and almost giant dirt was digested that limited of a blockage inside the digesters. The results showed that co-fermentation of GD and CD is an alternative for livestock raising households to produce biogas for energy purpose.

Keywords: anaerobic semi-continuous digester, cow dung, giant dirt, one-stage digester, two-stage digester.

 

3

Tran Sy Nam, Le Ngoc Dieu Hong, Huynh Van Thao, Nguyen Huu Chiem, Le Hoang Viet, Kjeld Ingvorsen, Nguyen Vo Chau Ngan, 2016. Enhancing biogas production by anaerobic co-digestion of water hyacinth and pig manure. Journal of Vietnamese environment, 2016 Vol.8,No.3, PP. 195-199

The characteristics of anaerobic batch co-digestion of water hyacinth (WH) with pig manure (PM) under seven mixing ratio 100% WH; 80%WH : 20%PM; 60%WH : 40%PM; 50%WH: 50%PM; 40%WH : 60%PM; 20%WH : 80%PM and 100%PM were inves igated. eacit treatment was con­ducted in five replications with daily loading rate at 1 gVS.L-1.day-1. During the anaerobic digestion process of 60 days, maximum biogas production occurred in two periods, the first stage from 12- 22 days and second stage from 30 - 35 days. The maximum daily biogas productions from each stage were 17.2 L.day-1 and 15.1 L.day-1, respectively. The cumulative biogas production varied between 60 L (100%PM) and 360 L (60%WH : 40%PM). The results showed that the biogas yields of co-digestion 40 - 80%WH were higher from 34.6 to 56.1% in comparison with 100%PM and from 109 to 143% in comparison with 100%WH. When mixing with WH, treatments were received more methane and the methane contents were higher than 45% (v/v) that good for energy using purposes.

Keywords: batch anaerobic co-digcstion, biogas, mixing ratios, pig manure, water hyacinth

 

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát khả năng gia tăng lượng khí sinh học khi tiến hành đồng phân hủy yếm khí lục bình (WH) và phân heo (PM) ở các tỉ lệ phối trộn khác nhau gồm 100%WH, 80%WH : 20%PM; 60%WH:40%PM; 50%WH:50%PM; 40%WH:60%PM; 20%WH:80%PM và 100%PM. Các nghiệm thức được nạp nguyên liệu là 1gVS.L-1.ngày-1 và bố trí lặp lại 5 lần. Theo dõi quá trình phân hủy của các nghiệm thức trong 60 ngày ghi nhận có 2 khoảng thời gian lượng khí sản sinh nhiều nhất – giai đoạn 1 từ ngày 12 đến 22, giai đoạn 2 từ ngày 30 đến 35. Lượng khí sản sinh cao nhất tương ứng trong mỗi giai đoạn là 17,2 L.ngày-1 và 15,1 L.ngày-1. Lượng khí tích lũy trong suốt thời gian thí nghiệm ghi nhận thấp nhất ở nghiệm thức 100% PM đạt 60 L và cao nhất ở nghiệm thức 60%WH:40PM đạt 360 L. Năng suất sinh ra của các nghiệm thức phối trộn lục bình từ 40 đến 80% cao hơn từ 34,6 đến 56,1% so với nghiệm thức 100% PM và cao hơn từ 109% đến 143% so với nghiệm thức 100% WH. Hàm lượng mê-tan sinh ra từ các nghiệm thức có phối trộn lục bình ổn định trong khoảng >45% đảm bảo nhiệt lượng cho nhu cầu sử dụng năng  lượng.

Từ khóa: mẻ ủ yếm khí, khí sinh học, tỉ lệ phối trộn, phân heo, lục bình

4

Nguyen Vo Chau Ngan and Nguyen Lan Huong, 2016. Vietnam’s renewable energy - an overview of current status and legal normative documents. Can Tho University Journal of Science, Special issue: Renewable Energy (2016) 92-105

This paper aims to overview current status on exploiting and applying energy in general and renewable energy in particular in Vietnam and to
present the Vietnamese policy on renewable energy. Vietnam is located in
a tropical area, which is highly potential for renewable energy development with various sources such as biomass, solar, wind, solid waste, etc. but exploitation capacities on these resources are limited. The Vietnamese
Government gradually institutionalizes legal normative documents to
promote energy exploitation from local potential renewable energy.

Keywwords: Energy demand, legal normative documents, renewable energy, Vietnam

 

5

Nguyễn Võ Châu Ngân, Trần Sỹ Nam, Lê Hoàng Việt, Nguyễn Hữu Chiếm, Kjeld Ingvorsen,
Jan Bentzen, 2016. Tiềm năng sử dụng rơm rạ trong sản xuất biogas ở đồng bằng sông Cửu Long. Hội thảo thiết bị, công nghệ thu gom và xử lý rơm rạ vùng đồng bằng sông Cửu Long, tháng 03 năm 2016.

 

Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, tuy nhiên lượng chất thải từ canh tác lúa gạo cũng rất lớn. Hàng năm riêng lượng rơm rạ phát sinh trên các cánh đồng ở khu vực này đã xấp xỉ 30 triệu tấn. Bài viết này tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của dự án “Sản xuất bền vững khí sinh học từ rơm thải”. Dự án đã thực hiện các thí nghiệm ủ yếm khí theo mẻ hỗn hợp rơm và phân heo để đánh giá sản lượng khí sinh ra. Rơm được chuẩn bị theo các phương pháp khác nhau: phối trộn với phân heo theo những tỷ lệ khác nhau, tiền xử lý rơm với các loại chất lỏng khác nhau, cắt nhỏ rơm với các kích cỡ khác nhau. Kết quả cho thấy rơm có thể được sử dụng như nguồn nguyên liệu nạp bổ sung cho hầm ủ biogas quy mô hộ gia đình.
Từ khóa: ĐBSCL, rơm, ủ yếm khí theo mẻ

6

Nguyễn Lệ Phương, Trương Minh Châu, Võ Văn Đủ, Lâm Thanh Ải và Nguyễn Võ Châu Ngân, 2015.  Ảnh hưởng của các tỷ lệ phối trộn đến khả năng sinh khí của mẻ ủ yếm khí kết hợp phân bò với thân cây bắp (Zea mays) và bèo tai tượng (Pistia stratiotes L).  Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  số chuyên đề Môi trường và Biến đổi khí hậu (2015): 71-79

Study of mixing ratio effect on the ability of biogas production from codigestion of cow manure (PB) with corn stalks (Zea mays) (TB) and
aquatic weed (Pistia stratiotes L) (TT) was evaluated in three mixing ratios of manure and plant, including: 100:0, 75:25 and 50:50. The 21 L
anaerobic digesters were set up to implement experiments in laboratory conditions. After 60 days, total biogas volume of the treatment of
100%PB:0%TB, 70%PB:25%TB and 50%PB:50%TB was 69±8.65 L, 102±3.4 L and 180±6.4 L, respectively and biogas yield was 196.1±5.55 L Kg-
1VS-1, 241±5.3 L Kg-1VS-1 and 560.2±11.1 L Kg-1VS-1, respectively. Similarly, total biogas volume of the treatment of 100%PB:0%TT, 70%PB:25%TT and 50%PB:50%TT was 69±8.65L, 96.45±0.55 L and
142.3±9.5 L, respectively and biogas yield was 196.1±5.55 L Kg-1VS-1, 226.7±11.6 L Kg-1VS-1 and 314.2±12.1 L Kg-1VS-1, respectively. The
results indicated that co-digestion of cow manure and plants can increase biogas volume.

Keywords: Anaerobic co-digestion, aquatic weed, biogas
production, corn stalks, cow
manure

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn đến khả năng sinh khí trong mẻ ủ yếm khí kết hợp phân bò với 02 loại thực vật là thân bắp và bèo tai tượng theo các tỷ lệ phân bò:thực vật là 100:0, 75:25 và 50:50. Các thí nghiệm được tiến hành trên các mô hình lên men yếm khí theo mẻ 21 L trong điều kiện phòng thí nghiệm. Sau 60 ngày ủ, tổng thể tích khí sinh ra tăng theo lượng thân bắp phối trộn 100:0, 75:25, 50:50 tương ứng là 69±8,65 L; 102±3,4 L; 180±6,4 L; đồng thời năng suất sinh khí gia tăng tương ứng 196,1±5,55 L Kg-1VS-1; 241±5,3 L Kg-1VS-1; 560,2±11,1 L Kg-1VS-1. Nhóm nghiệm thức ủ phân bò với bèo tai tượng có tổng thể tích khí sinh ra gia tăng theo lượng bèo thêm vào 100:0, 75:25, 50:50 tương ứng là 69±8,65 L; 96,45±0,55 L; 142,3±9,5 L với năng suất sinh khí tăng tương ứng 196,1±5,55 L Kg-1VS-1; 226,7±11,6 L Kg-1VS-1; 314,2±12,1 L Kg-1VS-1. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện thí nghiệm yếm khí theo mẻ kết hợp phân bò với thực vật, việc kết hợp phân bò với thực vật giúp cải thiện hiệu quả sinh khí đồng thời khả năng sinh khí có xu hướng tăng khi tăng tỷ lệ nguyên liệu nạp thực vật.

Từ khóa: Bèo tai tượng, phân hủy yếm khí, phân bò, sản xuất khí sinh học, thân bắp.

7

Trần Sỹ Nam, Nguyễn Phương Chi, Nguyễn Hữu Chiếm, Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân và Kjeld Ingvorsen, 2015.  Ảnh hưởng của các phương pháp tiền xử lý sinh học lục bình (Eichhornia crassipes) lên khả năng sinh biogas trong ủ yếm khí theo mẻ có phối trộn phân heo.  Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  số chuyên đề Môi trường và Biến đổi khí hậu (2015): 102-110

This study was performed based on anaerobic batch experiment in 60 days with biological pre-treatment water hyacinth methods such as (i) biogas digester effluent, (ii) dark anoxic sediment, (iii) ditch water, and (iv) tap water and 100% pig manure. The results indicated that pre-treated water hyacinth by dark anoxic sediment could speed up biogas process and have greater daily biogas production capacity than that of pre-treated with tap water, biogas digester effluent and ditch water. On the 30th day, the cumulative biogas production of water hyacinth pre-treated by dark anoxic sediment, biogas digester effluence was greater than other pre-treatment methods (p<0,05). On 60th day, the cumulative biogas production of water hyacinth pre-treated by dark anoxic sediment, biogas digester effluence and tap water was not significantly different, but it is significantly different with the experiment of ditch water and 100% of pig manure (p<0.05). Biogas produced from the day 6th to 20th accounted for more than 40% of the total. The concentration of methane was low in the first week, increased in the week after and then remained stable at the rate of greater than 50%. The methane concentration was not significantly different among pre-treatment methods. Biogas yielded from all treatments ranged from 436-723L/kgVSdegraded. The results showed that water hyacinth pre-treated with dark anoxic sediment and biogas digester effluent could enhance biogas production.

Keywords: Water hyacinth, biological pre-treatment, anaerobic digestion, co-digestion, biogas

 

Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp ủ yếm khí theo mẻ trong 60 ngày với các phương pháp tiền xử lý lục bình bằng (i) nước thải biogas, (ii) nước bùn đen, (iii) nước ao, (iv) nước máy và nghiệm thức 100% phần heo. Kết quả nghiên cứu cho thấy lục bình tiền xử lý bằng nước bùn đen giúp quá trình sinh khí diễn ra nhanh hơn và lượng biogas sinh ra hàng ngày cao hơn so với tiền xử lý bằng nước máy, nước thải biogas và nước ao. Ở thời điểm 30 ngày, lượng khí tích dồn của các bình ủ tiền xử lý bằng bùn đen và nước thải biogas cao hơn các nghiệm thức tiền xử lý khác (p<0,05). Lượng khí biogas tích dồn sau 60 ngày không có sự khác biệt giữa các phương pháp tiền xử lý bằng nước bùn đen, nước biogas và nước máy, nhưng cao hơn nước ao và 100% phần heo (p<0,05). Lượng khí biogas sinh ra tập trung vào giai đoạn từ ngày 6 đến ngày 20, chiếm hơn 40% tổng lượng khí. Nồng độ mê-tan trong tuần đầu tiên thấp sau đó tăng dần, giữ ổn định trên 50% và không có sự biến động lớn giữa các phương pháp tiền xử lý. Năng suất sinh khí của các nghiệm thức dao động từ 436 - 723 L.kgVSphần hủy-1. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiền xử lý lục bình bằng nước bùn đen và nước thải từ biogas có khả năng thúc đẩy nhanh quá trình tạo khí sinh học.

Từ khóa: Lục bình, tiền xử lý sinh học, ủ yếm khí, ủ yếm khí kết hợp, khí sinh học

 

8

Trần Sỹ Nam, Huỳnh Văn Thảo, Huỳnh Công Khánh, Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Hữu Chiếm, Lê Hoàng Việt, Kjeld Ingvorsen, 2015.  Đánh giá khả năng sử dụng rơm và lục bình trong ủ yếm khí bán liên tục - ứng dụng trên túi ủ biogas polyethylene với quy mô nông hộ.  Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  số 36a (2015): 27-35

The experiment was carried out in five polyethylene (PE) digesters each of them either contains 100% pig manure (100%PH), 100% water hyacinth (100%LB), 100% rice straw (100%RO), 50%LB+50%PH, or 50%RO+50%PH with anaerobic fermentation volume of 4.24 m3 and monitoring period of 60 days. The results showed that 100%RO and 100%LB digesters had short operation time (23 and 27 days, respectively) in comparison with 50%RO+50%PH, 50%LB+50%PH and 100%PH digesters (60 days). In term of total cumulative biogas volume, the study illustrated that there was no difference between 50%LB+50%PH; 50%RO+50%PH and 100%PH digesters (cumulative biogas volume of 55.3; 56.0 and 59.8 m3, respectively). However, it was higher than 100%LB and 100%RO digesters (cumulative biogas volume of 19.0 and 21.0 m3, respectively). Digesters that used completely water hyacinth and rice straw as the input substrates had the problems of short duration, cumulative total volatile fatty acids (TVFAs), pH drop, floating of rice straw and water hyacinth in the digester. The study proved that pig manure could be replaced by rice straw and water hyacinth in the level of 50% (base on VS) in case of lacking input substrates. It is highly recommended that pH, cumulative TVFAs, floating of rice straw and water hyacinth in the digester need to be studied in the research of using rice straw and water hyacinth for biogas production.

Keywords: Anaerobic fermentaion, biogas application, water hyacinth, rice straw, polyethylene biogas digester

 

 

Thí nghiệm được thực hiện với năm túi ủ polyethylene (PE) bao gồm 100% phân heo (100%PH); 100% lục bình (100%LB); 100% rơm (100%RO), 50%LB+50%PH; 50%RO+50%PH với thể tích ủ yếm khí là 4,24 m3, theo dõi trong 60 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy túi ủ nạp 100%RO và 100%LB có thời gian vận hành thấp (lần lượt là 23 và 27 ngày) so với có phối trộn 50%RO+50%PH, 50%LB+50%PH và túi nạp 100%PH (60 ngày). Về tổng lượng khí tích dồn trong 60 ngày, nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa tổng thể tích khí biogas sinh ra giữa các túi 50%LB+50%PH; 50%RO+50%PH và 100%PH (với giá trị lần lượt là 55,3; 56,0 và 59,8 m3), nhưng cao hơn so với 100%LB và 100%RO (lần lượt là 19,0 và 21,0 m3). Các túi ủ sử dụng hoàn toàn rơm và lục bình gặp các trở ngại là thời gian sử dụng ngắn, sự tích tụ tổng các axit béo bay hơi (TVFAs), pH giảm, rơm và lục bình dễ bị nổi trong mẻ ủ. Nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng nguồn nguyên liệu rơm hoặc lục bình để nạp vào các túi ủ ở mức thay thế 50% (theo VS) trong giai đoạn thiếu nguồn chất thải. Sự giảm pH, tích lũy TVFAs, rơm và lục bình nổi trong túi ủ là các yếu tố cần được theo dõi trong các nghiên cứu ứng dụng rơm và lục bình để sản xuất khí sinh học.

Từ khóa:

Ủ yếm khí, ứng dụng biogas, lục bình, rơm, túi ủ biogas polyethylene

9

Nguyen Vo Chau Ngan and Tran Sy Nam, 2014.  Greenhouse gas emission from on-field straw burning in the Mekong delta of Viet Nam.  Proceedings of 8th Asian crop science association conference. 2014

Greenhouse gas emission from burning rice straw on file in the Mekong delta of Viet Nam was investigated by prepared questionnaires and field surveys in An Giang, Dong Thap, Kien Giang and Can Tho provinces. The results showed that the most common method to remove rice straw is field burning while other methods such as burying, cultivating mushroom, selling, raising cattle, giving away and leaving on fields accounted for the small proportion. Removing rice straw methods vary depending on the rice crop seasons. The estimated quantity of rice straw in the Mekong Delta region is approximate 28.98 million tons in 2014, in which 27.68 million tons is burned directly on the fields. The survey indicates most rice farmers tend to continue burning straw as the most popular method in the next few years. This practice releases into the atmosphere with about 32.42 million tons of CO2, 768.40 thousand tons of CO and 68.65 thousand tons of NOx. The amount of CO2 accounting for more than 97% of the total greenhouse gas released from field burning. Studying on the methods to utilize the straw after harvests is highly recommended in order to limit the straw burning activities which waste a biomass resource and causes environmental pollution.

Keywords: Greenhouse gas, on-field burning, rice straw, the Mekong Delta.

 

 

10

Tram Sy Nam, Huynh Van Thao, Huynh Cong Khanh, Nguyen Vo Chau Ngan, Le Hoang Viet, Nguyen Huu Chiem, Kjeld Ingvorsen, 2015.  The components of volatile fatty acids in semi-continuous anaerobic co-digestion of rice straw and water hyacinth and pig manure.  Journal of science and technology 53(3A) (2015) 229-234

The semi-continuous anaerobic co-digestion experiment was investigated with five treatments including (1) 100 % rice straw (RS), (2) 100 % water hyacinth (WH), (3) 100 % pig manure (PM), (4) 50 % RS : 50 % PM, (5) 50 % WH : 50 % PM. Each treatment was conducted in triplicate with daily loading rate at 1 kgVS.m'3 and run for 60 days. The results showed that the components of volatile fatty acids (VFAs) were acetic acid, propionic acid, butyric acid, succinic acid, acrylic acid, fumaric acid, formic acid, malic acid. Acetic acid, propionic acid and butyric acid were the main component, accounting for approximately 80 % of VFAs. The highest level of VFAs was recorded in 100 % RS, 100 % WH treatment at level of 33.1 and 39.6 mmol.L"1, respectively. The concentration of long chain fatty acid such as propionic and butyric in 100 % RS and 100 % WH reactors were higher than other reactors. As a result, these treatments produced biogas more stable and higher than 100 % pig manure (PM), 50 % RS : 50 % PM, 50 % WH : 50 % PM treatment. There was a strong relationship between VFAs and pH, the accumulation of VFAs. Monitoring the components of volatile fatty acids in anaerobic process was highly recommended.

Keywords: anaerobic co-digestion, semi-continuous, volatile fatty acids.

 

11

Tran Sy Nam, Huynh Cong Khanh, Huynh Van Thao, Nguyen Vo Chau Ngan, Nguyen Huu Chiem, Le Hoang Viet, Kjeld Ingvorsen, 2015.  Biogas production from rice straw and water hyacinth – The effect of mixing in semi-continuous reactors.  Journal of science and technology 53(3A) (2015) 217-222

This experiment was carried out in 60-L semi-continuous reactors using rice straw (RS) water hyacinth (WH) as the substrate. All of the treatments were set up by completely random design; each treatment was done in triplicate with the loading rate of 1 gVS.L-1d-1. The results showed that mixing during incubation period enhanced 47.2% and 6.4% of cumulative biogas volume of WH and RS reactors, respectively. The biogas yield of WH reactors was higher than that of RS. Methane content was not significant difference from the mixing and non-mixing reactors. The maximum concentration of VFAs was 32.1, 28.6, 39.6 and 34.1 mmol/L in RSnon, RSmix, WHnon, WHmix reactors, recpectively. Daily feeding was not effected to pH, The lowest pH was recorded in this experiment was 6.1 in RS reactors. RS and WH could be used as the main substrate for biogas production in semi-continuous bio-reactors.

Keywords: anaerobic digestion, biogas production, semi-continuous, rice straw, water hyacinth.

 

12

Nguyen Vo Chau Ngan, Tran Sy Nam, Nguyen Huu Chiem, Le Hoang Viet, Kjeld Ingvorsen, 2015.  Effects of C/N ratios on anaerobic co-digestion of pig manure and local biomass in the Mekong delta.  Journal of science and technology 53(3A) (2015) 223-228

In the Mekong Delta, anaerobic digesters are applied to pig manure (PM) for waste treatment and creation of biogas for energy. However, due to rich nitrogen, anaerobic digestion of solely PM produces biogas in poor quantity and quality. This study investigated the effects of C/N ratio on anaerobic co-digestion of PM and water hyacinth (WH) or rice straw (RS). The lab scale 21-L batch anaerobic apparatus were set up at WH or RS replacement to PM of 80+20, 60+40, 50+50 (mixing ratio base on organic dry matter of input materials). The results showed that biogas yield from PM+WH treatments of 80 + 20 (C/N 25.1), 60 + 40 (C/N 27.0), 50+50 (C/N 28.1) significantly higher than the treatment of 100 %PM (C/N 23.5). For PM+RS treatment, the biogas yields of treatments 80+20 (C/N 26.2), 60+40 (C/N 29.8), 50+50 (C/N 32.1) significantly higher than the treatment of 100 %PM. The CH4 concentrated in biogas reaches the optimum values after 2 weeks that well suit for cooking purpose. It is strongly confirm that anaerobic co-digestion of PM with WH or RS is an effective way to achieve desired digestion performance.

Keywords: batch anaerobic co-digestion, C/N ratio, pig manure, rice straw, water hyacinth.

 

 

13

Nguyen Vo Chau Ngan, Nguyen Minh Tung, Tran Sy Nam, Nguyen Huu Chiem, Le Hoang Viet, Kjeld Ingvorsen, 2015.  Apply paddy straw for energy production to reduce in situ straw burning in the Mekong delta of VietNam.  Papers of the 23rd European biomass conference, 1-4 June 2015.

The Mekong Delta - a “rice bowl” of Vietnam - discharges around 30 million tons of paddy straw annually but most of straw is in situ burning that causes loss of precious nutrients and polluting the environment. Meanwhile, anaerobic technology was introduce in the region for long time but not yet become popular due to lack of input materials. The lab-scale 20 L anaerobic digesters were applied to co-ferment paddy straw (with sizes of 1.0 cm, 10.0 cm, 20.0 cm, original size) and pig manure (mixing ratio of 50%:50% based on their organic dry matter values) in 60 continuous days. The recorded values of temperature (25.3 to 30.30C), pH (6.74 ± 0.18), and redox potential (­

316.4           to -128.2 mV) of almost treatments were suitable for activities of methanogenic micro-organisms. The biogas yield of treatment with straw size of 1.0 cm was 691.05 L/kg ODMfermented, of 10.0 cm - 687.79 L/kg ODMfermented, of 20.0 cm - 685.08 L/kg ODMfermented and original size - 680.44 L/kg ODMfermented which significant different to the treatment of 100% pig manure. The results confirmed rice straw could apply as additional material to the pig manure at anaerobic digester to produce biogas that eliminate in situ straw burning.

Keywords: anaerobic co-fermentation, paddy straw, in situ straw burning, the Mekong Delta of Vietnam

 

14

Nguyen Vo Chau Ngan, Tran Sy Nam, Nguyen Huu Chiem, Le Hoang Viet, Nguyen Thi Thuy, Kjeld Ingvorsen. 2015.  Paddy straw application for energy production to reduce in situ straw burning in the Mekong delta of Vietnam.  In International conference on Solid Wastes 2015: Knowledge transfer for Sustainable resource management in at Hong Kong Baptist University, Hong Kong SAR, P.R. China.

This study aimed to make use of paddy straw and limit the gas emission from the practice of straw in situ burning. Lab-scale 21 L batch anaerobic digesters were set up to ferment paddy straw in 60 continuous days. Straw was cut in different sizes and pre-treated with digester's effluent for 5 days. The temperature, pH, and redox recorded daily in most of the treatments were in good conditions for methanogen. The gas yield from the treatments of rice straw 0.2 cm was 760 L/kg ODMfermented, 0.5 cm - 756 L/kg ODMfermented, and 1.0 cm - 764 L/kg ODMfermented which was higher than the treatments of 0.05 cm - 677 L/kg ODMfermented and original size - 698 L/kg ODMfermented. The CH4 content in all treatments got more than 45% after three weeks. The results confirm that the anaerobic practice could produce biogas from paddy straw and this can help reduce the local practice of burning straw on field.

Keywords: anaerobic digester, batch fermentation, paddy straw, in-situ straw burning, the Mekong Delta of Vietnam

 

 

15

Nguyen Le Phuong, Le Thi Thao Quyen, Nguyen Thi Ngoc Huyen, Nguyen Thi Nhu Huynh, Nguyen Thi Diem Trang, Nguyen Vo Chau Ngan, 2015. Biogas production from corn (zea mays) stalks: effects of size.

Journal of Fisheries Science and Technology 2015 (69-75)

Study on size effects of corn stalks for biogas production was evaluated for three different sizes of stalk: 15 - 20 cm, 8 - 10 cm and 1-2 cm. The 21L anaerobic digesters were set up to implement experiments in laboratory conditions. All experiments were fed with loading ratio of 1 kg vs/m^ct1, the hydraulic retention time was 60 days. The control parameters from all experiments (temperature, pH) were not significantly different between treatments but ranged in suitable values for anaerobic fermentation processes. The biogas yield and CH4 concentrations were highest at treatment with sizes 8-10 cm, the next was treatment of 1 - 2 cm and the lowest was treatment of 15 - 20 cm with 526 L/kg vs - 38.3%, 440.5 L/kg vs - 29.2% and 312.2 L/kg VS-26.4% in respectively. The %CH4 ofall treatments tended to increase by day and kept more stable in treatment with size 8- 10 cm than the rest. The results show that using com stalks in size 8- 10 cm produced more biogas than other sizes. Using com stalks for biogas production help farmers improve their life conditions.

Keywords: anaerobic digestion, batch fermentation, corn stalk

 

 

16

Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Thị Bé Gái, Nguyễn Thị Thu Vân, 2015.  Hiệu quả xử lý Vi Sinh Vật của mẻ ủ yếm khí nạp phối trộn phân heo và thực vật.  Kỷ yếu hội nghị khoa học toàn quốc Chăn Nuôi – Thú Y 2015. NXB Nông Nghiệp

This study evaluated the treatment efficiency of micro­organisms on anaerobic co-digestion from pig dung and biomass. The experiment systems used 5 L glass bottles which connected to aluminum bag for gas collection. There were 5 treatments (NT) set up randomly with treatments 1 and 2 fed 50 pig dung (PH) and 50% water hyacinth (LB) cut of 1 cm and 10 cm, respectively; treatment 3 and 4 fed 50% PH and 50% rice straw (RO) cut of 1 cm and 10 cm, respectively; and treatment 5 fed 100% PH as control treatment. All treatments were nin in 45 continuous days. The results showed reduction of worm eggs and harmful bacteria by time. The eliminating efficiencies were more than 98% for ascarid eggs, and 100% for hookworm eggs and hairworm at all treatments. The treatment efficiency of total Coliform ranged from 99.78-99.98%; Enterococcus from 95.17-99 .97%; E. coli from 99.78-99.99%; Salmonella from 76- 97.8%. The treatment efficiency was rather high but the remaining germs were still higher than discharge standards on QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 01-14/BNNPTNN and WHO (2006). Further study on treating of digester effluent is therefore needed to reach the discharge standards.

Keywords: anaerobic co-digestion, biogas technology, harmful bacteria, worm eggs.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả xứ lý vi sinh vật của mẻ ủ yếm khí nạp nguyên liệu phối trộn. Thí nghiệm sử dụng các bình ủ thủy tinh 5 L liên kềt với túi nhôm chứa khí, gồm 5 nghiệm thức (NT) bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong đó NT1 và NT2 nạp hỗn hợp 50% phân heo (PH) và 50% lục bình (LB) với LB kích cỡ 1 cm và 10 cm; NT3 và NT4 là hai nghiệm thức phối trộn 50% PH và 50% rơm (RO) với RO được cắt nhỏ 1 cm và 10 cm; NT 5 là nghiệm thức đối chứng nạp 100% PH, thời gian ủ 45 ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy số lượng trứng giun sán và vi khuẩn gây bệnh giảm đáng kể qua 45 ngày ủ. Hiệu suất loại bỏ trứng giun đũa trên 98%, trứng giun móc và trứng giun tóc đạt 100% ờ cả 5 nghiệm thức. Hiệu suất xử lý tổng Coliforms dao dộng từ 99,78 - 99,98%. E. coli có hiệu suất xử lý dao động từ 99,78-99,99%. Hiệu suất loại bỏ Enterococcus khá cao dao động từ 95,17-99,97%. Salmonella bị loại bỏ thấp chi từ 76- 97,8%. Mặc dù hiệu suất xử lý cúa mé ủ khá cao nhưng mầm bệnh trong nước thài đầu ra vẫn cao gấp nhiều lần so với yêu cầu xả thài cùa nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT, yêu cầu về nước cho trại chăn nuôi heo QCVN 01-14/BNNPTNN và yêu cầu xử lý nước thải cho canh tác nông nghiệp WHO (2006). Do đó cần nghiên cứu thêm công nghệ xử lý nước thải đầu ra của hầm ủ biogas đạt yêu cầu xả thải.

Từ khóa: công nghệ biogas, trứng giun sán. ủ yếm khí phối trộn, vi sinh vật gây bệnh

 

17

Nguyễn Võ Châu Ngân, Nguyễn Thị Thùy, Đoàn Thị Thúy Kiều Ngô Quốc Vinh, Đỗ Thị Mỹ Phượng, Trần Sỹ Nam, 2015.  Lợi ích kép của công nghệ biogas từ việc sử dụng bã thải túi ủ biogas trong canh tác nông nghiệp hữu cơ.  Kỷ yếu hội nghị khoa học toàn quốc Chăn Nuôi – Thú Y 2015. NXB Nông Nghiệp

The present study aimed to evaluate the efficiency of using the effluent from anaerobic co-digesters on water spinach yield. All experiments were set up onsite at the farmer household with 13 treatments (triplicate for each) including 10 treatments applied effluents from digesters composing of pig dung, rice straw, water hyacinth, or co-digestion; 2 treatments applied inorganic fertilizer and 1 control treatment. The results showed that treatments fertilized by effluent front digesters got the yield of 21.9-25.71 ton/ha that was not significantly different from that of with inorganic fertilizer of 23.93 ton/ha. Applying organic fertilizer source from biogas digester for planting is an optimum way of saving money to buy inorganic fertilizer, reducing the environment pollution and direct to a green agriculture development.

Keywords: biogas technology, co-digestion, digester's effluent, inorganic fertilizer, organic fertilizer, water spinach

 

Nghiên cứu hiện tại được tiến hành để đánh giá hiệu quả sử dụng bã thải túi biogas ủ kết hợp lên sinh trường cùa cây rau muống. Thí nghiệm được bô trí tại hộ dân gôm 13 nghiệm thức với 3 lần lặp lại trong đó 10 nghiệm thức sử dụng bã thải túi ủ biogas với các nguyên liệu nạp gồm phân heo, rơm, lục bình, hoặc kết hợp; 2 nghiệm thức sử dụng phân vô cơ và 1 nghiệm thức đối chứng. Kết quả thí nghiệm cho thấy các nghiệm thức sử dụng phân hữu cơ từ túi ủ biogas cho năng suất rau muống đạt từ 21,9-25,71 tấn/ha tương đương nghiệm thức sử dụng phân vô cơ là 23,93 tấn/ha. Phân bón hữu cơ giúp cải thiện hàm lượng chất hữu cơ, tăng hàm lượng đạm, lân và kali cho đất. Việc tận dụng nguồn phân hữu cơ có sẵn từ các túi ủ biogas để bón cho cây trồng là biện pháp hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phí mua phân vô cơ và giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường, định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh.

Từ khóa: bã thải biogas, công nghệ biogas, phân hữu cơ, phân vô cơ, rau muống

 

18

Trần Sỹ Nam, Nguyễn Phương Chi, Nguyễn Võ Châu Ngân, 2014.  Khảo sát sinh trưởng của cây Lục Bình (Eichhornia crassipes) trên các thủy vực khác nhau.  NXB Nông Nghiệp

The study of water hyacinth was carried out at 4 aquatic types (river, canal, fish pond and irrigated pond). The experiment consisted of 3 plots of 4m2 ineach water-body, all parameters were determined weekly and continuously for 6 weeks. The results showed that water hyacinth grows best in fish ponds and lowest in the river. The growth of water hyacinth in canals was not significantly different from irrigated ponds (p > 0.05). The dry matter (DM) of water hyacinth in fish ponds, canal and irrigated ponds dramatically higher (542 - 572g DM/m2 than in the river 104,46 gDM/m2. DM of water hyacinth in fish ponds was not different from the canal (p>0.05) but significantly different from irrigated ponds and river (p<0.05). Doubling time of water hyacinth in the fish ponds, canals and ditches was relatively short at about 11 days and 23 days for rivers. The results of the study are the basis to help the local agencies in planning water hyacinth farming area for handicraft or other purposes.

Keywords: Aquatic area, dry matter, water hyacinth

Nghiên cứu nhằm khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của lục bình trên các thủy vực khác nhau. Thí nghiệm được triển khai trên 4 loại hình thủy vực khác nhau gồm sông, kênh dẫn nước, ao nuôi cá và mương vườn. Mỗi thủy vực bố tri 3 lô thí nghiệm với diện tích mỗi lô 4 m2, cây trồng được theo dõi hàng tuần và liên tục trong 6 tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy lục bình phát triển tốt nhất ở thủy vực ao nuôi cá và thấp nhất ở thủy vực sông. Giữa kênh và mương thì sinh trưởng và phát triển của lục bình khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Khối lượng vật chất khô (DM) của lục bình ở ao nuôi cá, kênh dẫn nước và mương vườn gia tăng từ 542 - 572 g DM/m2, đối với sông DM gia tăng 104,46 g DM/m2, DM của lục bình ở ao cá không khác biệt so với kênh (p>0,05) nhưng khác biệt có ý nghĩa so với mương vườn và sông (p <0,05). Thời gian nhân đôi của lục bình ở ao nuôi cá, kênh và mương tương đối ngắn khoảng 11 ngày và 23 ngày đối với sông. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở giúp các địa phương quy hoạch vùng nuôi lục bình sử dụng cho ngành hàng thủ công mỹ nghệ hay các mục đích khác.

Từ khóa: Khối lượng vật chất khô, lục bình, thủy vực

 

19

Tran Sy Nam, Nguyen Thi Huynh Nhu, Nguyen Huu Chiem, Nguyen Tuan Thanh, Tran Thanh Thai, Nguyen Vo Chau Ngan, Le Hoang Viet, Kjeld Ingvorsen, 2014.  Estimated quantity of rice straw and its uses in some provinces in the Mekong delta region.  Journal of Science and Technology 52 (3A) (2014), PP 316-322

The estimated quantity of rice straw and its use in some provinces in the Mekong Delta region was carried out based on prepared questionnaires and field surveys in An Giang, Dong Thap, Kien Giang and Can Tho. The results showed that there were six common methods of rice straw treatment. They include burning, burying, mushroom cultivation, breeding, sale and giving away. The methods of using rice straw vary depending on the rice season crops. In the Winter­spring season, burning is the most common method (98.2 %), whereas mushroom cultivation and sale are the least. In the Summer-Autumn season, the proportion of straw burning decreases to 89.67 %, and that of burying to 6.65 %. In the Autumn-Winter season, straw burning has the lowest level (54.1 %), and the proportion of straw burying is quite high (26.1 %), followed by mushroom cultivation (8.14 %) and the rest methods share the small proportions. The estimated quantity of rice straw in the Mekong Delta region is approximate 26.23 million tons annually, in which 20.93 million tons is burned directly on the fields. This practice releases into the atmosphere with about 17.95 million tons of CO2, 485.58 thousand tons of CO and 10.38 thousand tons of NOX. The results also show that most farmers tend to continue the practice of burning straw as the most popular method in the next few years.

Keywords: rice straw, burning, rice straw treatment, the Mekong Delta Region.

 

 

20

Trần Sỹ Nam, Võ Thị Vịnh, Nguyễn Hữu Chiếm, Nguyễn Võ Châu Ngân, Lê Hoàng Việt, Kjeld Ingvorsen, 2014.  Enhancing biogas production by supplementing rice straw.  Journal of Science and Technology 52 (3A) (2014) 294-301

The study was conducted in batch anaerobic digesters of 21 L in lab conditions for 60 days. The mixing ratios of rice straw and pig manure were 100 % of pig manure, 20 % of straw + 80 % of pig manure, 40 % of straw + 60 % of pig manure, 50 % of straw + 50 % of pig manure, 60 % of straw + 40 % of pig manure, 80 % of straw + 20 % of pig manure, and 100 % of straw. These experiments were arranged randomly in batch anaerobic reactors with volume of 21 liters; each mixing ratio was repeated five times. The results showed that rice straw have a high potential of enhancing biogas production due to mixing with pig manure. Mixing ratios of rice straw and pig manure at 50 % and 60 % had highest gas yield (846,6 and 841,8 L/kg vs degraded), which were not different from other mixing ratios except in the ratios of 100 % of straw and 100 % of pig manure (P < 0.05). Supplementing rice straw could enhance the rate of methane in biogas. The digestate had a high concentration of total nitrogen and total phosphorus that could be used as organic fertilizer. The research results strongly reveal that supplementing of rice straw could improve the biogas efficiency of real biogas reactors.

Keywords: biogas, rice straw, pig manure, mixing ratio, batch anaerobic digestion.

 

21

Đào Mai Trúc Quỳnh, Nguyễn Võ Châu Ngân, Jan Bentzen và Kjeld Ingvorsen, 2013.  Khảo sát hiện trạng sử dụng và tiềm năng ứng dụng hầm ủ biogas ở một số xã thuộc tỉnh Tiền Giang.  Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ  số 28 (2013): 80-85

This study evaluates the biogas appliance and the possibility to enhance the development of the biogas practices in the Mekong Delta. There were 100 households with and without biogas installation at Tien Giang interviewed. Before constructing the digester, there were 54/65 biogas-user households applied pig dung direct to their trees, 7 households discharged direct to the surrounding canal, and the rest of households buried pig dung at their garden or gave to their neighbor. For 35 non-biogas user there were 10 households applied pig dung direct to their trees, 5 households discharged direct to the surrounding canal, 10 households sold pig dung to their neighbor and the rest of households buried at their garden. Among 65 biogas-user households, there was 41 households mentioned on decrease of disease after construct a biogas plant, 22 house-holds connect their toilet to biogas plant, and 26 households mentioned time-saving (i.e. quick cooking with biogas and save time from wood collection) for husbandry and gardening. About 60% of non-biogas user households had information on biogas technology but they did not construct a biogas plant due to high investment cost. 70% of the non-biogas household would like to install a digester if the investment cost of about 3 million dong while the rest could construct one if they were offered (freely) 50% of investment cost.

Keywords: Biogas appliance, biogas technology, Tien Giang Province.

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng hầm ủ biogas và khả năng phát triển công nghệ biogas ở ĐBSCL. Đề tài đã tiến hành phỏng vấn 65 hộ có hầm ủ và 35 hộ chưa có hầ m ủ ở tỉ nh Tiền Giang. Kết quả đ i ề u tra cho thấ y trước khi xây dựng hầm ủ có 54/65 hộ bón tươi cho cây trồng, 7 hộ thải trực tiếp xuống kênh rạch, các hộ còn lại cho hàng xóm hoặc đào hố chôn lấp sau nhà; đối với 35 hộ chưa xây hầm ủ có khoảng 10 hộ bón tươi cho cây trồng, 10 hộ bán cho hàng xóm, 5 hộ thải trực tiếp xuống kênh rạch, các hộ còn lại đào hố chôn lấp sau nhà. Trong số các hộ có hầm ủ, 41 hộ cho biết bệnh tật giảm đi từ khi có hầm ủ, 22 hộ kết nối nhà vệ sinh với hầm ủ, 26 hộ sử dụng thời gian tiết kiệm nhờ đun nấu bằng biogas hoặc không phải thu gom củi để làm các công việc khác. Đối với 35 hộ chưa có hầm ủ thì có 60% biết về công nghệ biogas nhưng không xây dựng vì vốn đầu tư cao; khoảng 70% hộ dân có nhu cầu xây dựng với điều kiện vốn đầu tư dưới 3.000.000 đồng, 30% còn lại sẽ xây dựng hầm ủ nếu được hỗ trợ 50% vốn xây dựng.

Từ khóa: Ứng dụng biogas, công nghệ biogas, tỉnh Tiền Giang.

 


Newer news items:
Older news items: